
Các quán cà phê vỉa hè luôn nhộn nhịp khách ghé thăm.
Được khai trương từ năm 1969 của thế kỷ trước, đến nay quán cà phê Chiêu đã hoạt động hơn 46 năm và là một trong số ít quán cà phê trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn. Tên gọi “Chiêu”, theo lời giải thích của bà Nguyễn Tuyết Mai chủ quán, mang nghĩa kêu mời, gọi về.

Khi cái tên không chỉ đơn giản là danh xưng, mà còn là ký ức, là dải thời gian không phai.
Chiêu là một trong những quán cà phê xưa cũ của giới học sinh – sinh viên, tồn tại từ trước 1975 cho đến nay. Như được kể lại từ những ai từng sống qua thời đó, nơi này đã trở thành một phần thú vị của thói quen la cà quán xá của người dân Sài Gòn, chung thời với cà phê Thái Chi trên đường Nguyễn Phi Khanh hay cà phê Văn Khoa lừng danh của sinh viên đại học Văn Khoa ngày ấy.

Đây từng là nơi “hẹn hò” của học sinh, sinh viên văn khoa trong thời điểm 1900 xưa cũ.
Bà Nguyễn Tuyết Mai, người phụ nữ đã lèo lái Chiêu suốt hơn bốn thập kỷ, vẫn còn ghi nhớ mồn một thời thanh xuân của những học trò từng lui tới, dẫu nay bà đã ở tuổi “thất thập cổ lai hy”. Quán cà phê mộc mạc trước kia từng là căn villa cũ mà cha mẹ để lại cho anh chị em bà từ năm 1947. Đến năm 1968, khi được em trai bà Mai khuyến khích, Chiêu chính thức khai trương một năm sau đó. Với mục tiêu ban đầu là nơi hội tụ, giao lưu của các anh em hướng đạo sinh, dần dà, quán Chiêu trở thành điểm đến quen thuộc của học sinh, sinh viên, trí thức văn sĩ Sài Gòn thời đó. Gỗ ốp tường lên màu của thời gian kết hợp cùng cách pha cà phê phin cổ điển vẫn được lưu giữ, như một phần ký ức khó phai suốt bao năm tồn tại.

Gỗ cũ khoác đầy màu thời gian.

“Chiêu” luôn nỗ lực gìn giữ cách bày trí cổ điển, không đua theo kiểu quán cà phê cho giới trẻ thời nay.
Bà Tuyết Mai luôn nhớ mãi, ngày xưa giới thượng lưu thường đến những quán vỉa hè sang trọng trên đường Catinat (nay là Đồng Khởi) như Givral, Brodard, trước khách sạn Continental hoặc tối tối dạo qua các phòng trà nhạc nhẹ. Còn sinh viên, ít tiền hơn thì hay “đổ bộ” vào những quán xa trung tâm như Hầm Gió trên đường Võ Tánh, Đa La trên đường Nguyễn Tri Phương. Ngày nay, đa phần những quán đó đã không còn, “chỉ còn duy nhất quán của tôi vẫn ở đó hoài,” bà Mai cười chia sẻ.

Suốt gần nửa thế kỷ, quán đã ghi dấu ấn không nhỏ trong xu hướng cà phê đặc sắc nhất Sài Gòn.
Có một thời kỳ Chiêu phải đóng cửa do những biến động thời cuộc, bà Mai phải buôn bán ở đầu hẻm để mưu sinh. Nhưng những vị khách cũ cứ về tìm, là động lực cho bà khôi phục lại Chiêu một lần nữa. Quán Chiêu đã chứng kiến hành trình ba thế hệ khách hàng: sinh viên Sài Gòn trước 1975, sau giải phóng và thế hệ sinh viên hiện nay. Nhiều năm tồn tại cũng là bấy nhiêu năm tuổi học trò, với nhiệt huyết của tuổi trẻ đã làm cho quán trở nên sống động, chỉ khác là những người ở thế hệ đầu tiên giờ đã hai màu tóc.

Quán đã từng là nơi dừng chân của biết bao thế hệ để nhấm nháp vị cà phê.
Tại Chiêu, hình ảnh một trí thức trung niên lựa chọn góc sát tường, thả hồn theo những giai điệu của Ngô Thuỵ Miên, Vũ Thành An, Trịnh Công Sơn, dễ bắt gặp, như thể cùng gợi nhớ thời sinh viên của những năm tháng trước.
Cà phê âm phủ
Tên gọi độc đáo và có phần bí ẩn này do những khách quen dành tặng cho một quán cà phê cóc không biển hiệu, tồn tại xuyên suốt 60 năm. Xe cà phê của vợ chồng ông Đặng Ngọc Côn không hề biết đến khái niệm đóng cửa, và đó cũng là lý do vì sao mà tên này được đặt như thế.

Quán cà phê nơi đầu hẻm, dù chẳng có tên, vẫn được nhiều người yêu thích.

Quán luôn mở cửa vì không muốn làm khách thất vọng.
Theo ký ức của ông Đặng Ngọc Côn (được gọi thân mật là ông Ba Côn), cha ông đã đẩy xe cà phê lưu động bán từ giữa thập kỷ 1950, trong thời kỳ Pháp thuộc. Sau khi tiếp quản việc từ cha, từ năm 1975, ông cùng vợ chuyển về hẻm gần ngã tư Phú Nhuận, tiếp tục việc kinh doanh cho đến nay. Vợ ông Ba nhớ lại việc đóng cửa chỉ một lần do bận chuyện gia đình, khách đông kín nên từ đó, họ không dám ngừng hoạt động nữa, sợ làm khách thất vọng.

Những hồi ức về thời xa xưa.
Ngôi nhà nhỏ của ông bà Ba Côn được biến thành quán khi phòng khách được dùng để đặt một xe cà phê nhỏ và vài chiếc bàn ghế lọt thỏm để khách có thể ngồi dựa vào tường. Bên ngoài cửa, một dãy bàn ghế nhỏ nép sát hai đầu hẻm, tạo nên khung cảnh luôn tấp nập người ra vào nơi đầu con hẻm nhỏ.

Thật tuyệt vời khi quán nằm trong con hẻm nhỏ nhưng ai cũng tìm đến được!
Sự đặc biệt của “cà phê âm phủ” nằm trọn vẹn trong chiếc xe đẩy, được mệnh danh là “nhỏ nhưng có võ”. Những dụng cụ pha chế, quan trọng nhất là những chiếc vợt vải lọc cà phê, được vợ chồng ông bà Ba gìn giữ cẩn thận, vì theo họ “vợt càng lâu năm, hương vị cà phê càng thêm phong phú”. Sau mỗi buổi bán, bà Ba lại xem xét kỹ lưỡng từng chiếc vợt, vệ sinh đến khi sạch sẽ để đảm bảo mỗi mẻ cà phê luôn hoàn hảo.
Bên dưới xe đẩy, lò than luôn cháy rực suốt ngày đêm để đảm bảo nước thật sôi, giữ cho cà phê luôn nóng hổi. Mỗi ly cà phê trước khi phục vụ khách đều phải trải qua 3-4 lần nấu và trụng kỹ càng. Quán không chỉ hấp dẫn khách bởi đôi bàn tay tinh tế của ông bà Ba trong việc tạo nên ly cà phê vợt chính hiệu mà còn nhờ dáng hình gầy guộc của cả hai vợ chồng cần cù đến khuya.

Chiếc vợt cà phê “nuôi sống” cả gia đình.

Hương vị cà phê thơm ngon ấy vẫn được gìn giữ qua bao năm tháng.
Người dân Sài Gòn sống lâu năm quanh khu Tân Định, Cầu Kiệu, đều quen thuộc với quán cà phê vợt của ông bà Ba Côn. Khách hàng đa phần là khách “ruột” dù ở xa cũng ghé thăm thường xuyên hàng ngày. Hiện tại, ở Sài Gòn, chỉ còn ít quán cà phê vợt truyền thống như thế này, trong khi trước đây rất phổ biến.

Không phải mọi nơi đều còn giữ nghệ thuật pha cà phê vợt.

Quán là một trong số ít nơi còn gìn giữ phương pháp truyền thống này.
Cheo Leo
Cheo Leo đứng trong danh sách các quán cà phê lâu đời và ngon nhất Sài Gòn. Quán đa số được nhớ đến qua cảm nhận của các vị khách đã là công chức, nhân viên hoặc học sinh, sinh viên từ những thập kỷ trước. Nằm tron lọt giữa dãy nhà đông đúc, nơi đây mở cửa lần đầu cách đây 77 năm, năm 1938, khi một gia đình Huế chọn nơi này để lập nghiệp.

Trải qua hơn 75 năm, ba thế hệ gia đình vẫn sống tại ngôi nhà cũ và tiếp nối quán cà phê truyền thống như một giá trị tinh thần quý báu cần được bảo vệ.
Người sáng lập quán là ông Vĩnh Ngô, sau khi ông qua đời, quán Cheo Leo được giao lại cho người con gái thứ ba là chị Tuyết quản lý. Quán cà phê kiểu cổ tiếp tục thu hút học sinh, sinh viên sau những giờ học dù không hào nhoáng.
Cheo Leo lưu giữ hình bóng của đủ mọi tầng lớp xã hội, cùng nhau ngồi thưởng thức cà phê và đàm đạo. Những cựu học sinh của trường Petrus Ký Lê Hồng Phong và trường Chu Văn An nhớ mãi góc quán gần trường, với cái thú cà phê lụp xụp của Sài Gòn xưa. Ký ức của chị Tuyết về những tà áo dài trắng của nữ sinh ngày xưa luôn in đậm. Dù trải qua bao biến động, khi họ trở về, kỷ niệm vẫn còn đong đầy.

Cà phê vẫn thân thuộc theo thời gian.

Cách bài trí gợi nhớ đến Sài Gòn xưa cũ.
Ngôi nhà vẫn duy trì phong cách trang trí xưa cũ. Những mảng tường loang lổ theo thời gian, trần nhà in một màu vàng óng, dấu ấn của khói bốc lên từ siêu đất đun cà phê. Nội thất bàn ghế vẫn giữ dáng vẻ xưa… Gỗ in những vết loang lỗ kéo dài đến trước hiên, làm nền cho những buổi chuyện trò sáng sớm hay chiều muộn. Phía trước, một chiếc xe thuốc lá kiêm bán vài món lặt vặt cùng cà phê kiểu xe đẩy đặc trưng Sài Gòn xưa, khác biệt hẳn so với xe inox thời nay. Nơi đó, những bản nhạc tình vẫn mãi vang vọng.

Những bài báo cũ.

Người ta nói gì về “Cheo Leo”?
Tại Cheo Leo, cách pha cà phê bằng nồi đất được duy trì nguyên vẹn như thuở ban đầu. Người phụ trách pha chế, chị Tuyết, cho biết hàng ngày cà phê được nấu trong nồi đất nung, sau khi đã rang xay một lượt. Ba chiếc nồi này luôn được giữ nóng bằng bếp than củi. Phương thức này giữ được hương vị trọn vẹn và đảm bảo cà phê luôn nóng khi phục vụ khách.

Cách pha chế cầu kỳ làm nổi bật tâm huyết của người thợ cà phê.

Buổi sáng tinh mơ với một tách cà phê mang hương vị đặc trưng của Sài Gòn.
Trong nhịp sống hối hả, người trẻ thường tìm đến những con hẻm nhỏ để trải nghiệm nhịp điệu sớm mai của cuộc sống Sài Gòn bên tách cà phê, hòa mình vào các giai điệu hoài cổ nơi đây. Họ luôn lo sợ rằng những hương vị quen thuộc ấy sẽ phai nhòa như bóng dáng xưa của thành phố.





